Dân là chủ và dân làm chủ là gì

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự là một bộ phận hữu cơ và bắt nguồn từ tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách mạng và đấu tranh cách mạng. Cả cuộc đời của Bác Hồ là cả cuộc đời vì nước, vì dân, đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì quyền làm chủ của nhân dân, thể hiện ý chí kiên cường của Người và lòng tin sắt đá của Người vào sức mạnh của nhân dân. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng đều là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân. Quan điểm Hồ Chí Minh về nhân dân - dân là gốc và dân làm chủ - là sự vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa truyền thống dân tộc và tiếp thu những tinh hoa của thế giới. Nhân dân; đại bộ phận là nhân dân lao động, mà công nông là cơ bản, đứng lên đấu tranh để tự giải phóng dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong của giai cấp công nhân. Lấy sức ta mà tự giải phóng cho ta. Từ tư tưởng chở thuyền, lật thuyền đều là dân của Nguyễn Trãi đến tư tưởng sức mạnh yêu nước của dân, như làn sóng mãnh liệt nhấn chìm mọi lũ cướp nước và bán nước, của Hồ Chí Minh. "Dân là gốc” và "dân làm chủ" là một nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng và đấu tranh cách mạng. Đó cũng là một tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh về quân sự. Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhân dân gắn liền với quan điểm của Người về dân tộc. Đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc để đấu tranh bảo vệ chân lý "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”.

1. Trước hết, đứng về mục tiêu của cách mạng nói chung, mục đích chính trị của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng nói riêng, Hồ Chí Minh chủ trương giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đưa dân tộc bị áp bức thành dân tộc độc lập, đưa con người nô lệ thành con người tự do, đưa người dân bị bóc lột thành người dân làm chủ. Mục tiêu đó của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) góp phần vào sự nghiệp cách mạng vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân các nước trên toàn thế giới. Mục tiêu lâu dài của cách mạng được thể hiện cụ thể thành mục đích chính trị của mỗi cuộc chiến tranh cụ thể: Độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày, tiến lên CNXH trong kháng chiến chống Pháp; bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa (XHCN), giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong kháng chiến chống Mỹ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ XHCN trên cả nước trong công cuộc củng cố quốc phòng và xây dựng đất nước hiện nay.

2. Mục tiêu đó của cách mạng phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích sống còn của nhân dân nên đã phát động và tập hợp được lực lượng lớn nhất của nhân dân ta, của dân tộc ta và sự đồng tình ủng hộ của nhân loại tiến bộ. Đứng về lực lượng của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, Hồ Chí Minh chủ trương động viên và tổ chức lực lượng của giai cấp và tầng lớp yêu nước của cả dân tộc, cả kiều bào ở nước ngoài, tham gia kháng chiến, tiến hành khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh toàn dân, lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và đánh bại chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc; giành quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ cuộc sống của mình. Để tiến hành khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh toàn dân, cần phải vũ trang toàn dân. Ngày nay, để bảo vệ Tổ quốc, phải thực hiện quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với an ninh nhân dân, thực hiện toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân thể hiện rõ rệt "dân là gốc" và "dân làm chủ" trong quân sự, trong khởi nghĩa, chiến tranh và quốc phòng.

Quá trình vận động cách mạng từ đấu tranh kinh tế và chính trị chuyển lên khởi nghĩa và đấu tranh vũ trang, là quá trình tổ chức, giáo dục giác ngộ nhân dân, xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, trên cơ sở đó dần dần tổ chức các lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân gồm ba thứ quân làm nòng cốt. Quân đội nhân dân, các LLVT nhân dân là từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, là quân đội, là LLVT của dân, do dân, vì dân. Từ phong trào chính trị của nhân dân mà tổ chức và phát triển LLVT nhân dân. Suốt quá trình hình thành, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân bao giờ cũng phải gắn liền và dựa chắc vào phong trào chính trị, lực lượng chính trị của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhân dân là nguồn sức mạnh vô tận của quân đội, của LLVT nhân dân. Đồng thời, Quân đội nhân dân lại là công cụ, là lực lượng của Đảng để tuyên truyền, phát động toàn dân kháng chiến và làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, cho toàn dân làm quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết tất cả các lực lượng có thể đoàn kết, thực hiện đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc, phân hóa cao độ kẻ thù, cảm hóa những kẻ lầm đường lạc lối, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, kể cả nhân dân trong các nước đối địch.

3. Để tiến hành khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh toàn dân, đứng về phương pháp cách mạng, phương thức khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng cũng như về nghệ thuật quân sự, Hồ Chí Minh chủ trương phát huy lòng yêu nước và trí thông minh sáng tạo của mỗi con người Việt Nam, đánh giặc bằng mọi vũ khí có trong tay, từ thô sơ đến hiện đại, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, khởi nghĩa với chiến tranh, chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp bạo lực chính trị với bạo lực vũ trang, tiến công và nổi dậy, kết hợp quân sự, chính trị với binh vận, địch vận, đánh giặc một cách toàn diện trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao. Đó là tư tưởng chiến tranh toàn diện, đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp, của chiến tranh nhân dân, chiến tranh toàn dân phát triển đến đỉnh cao, mỗi người dân là một chiến sĩ đánh địch bằng mọi phương tiện và trên mọi lĩnh vực.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh toàn dân, chiến tranh toàn diện vận dụng trong thực tiễn đã dẫn đến và gắn liền với tư tưởng tự lực tự cường, dựa vào sức mình là chính, tư tưởng biện chứng cách mạng của Hồ Chí Minh về so sánh lực lượng giữa ta và địch, về mối quan hệ giữa thế và lực, về tư tưởng chiến lược tiến công, về nghệ thuật kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại... Để đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh, Hồ Chí Minh chủ trương bồi dưỡng sức dân, kết hợp sản xuất với chiến đấu, kết hợp kháng chiến với kiến quốc, nâng cao dân trí, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

4. Khẩu hiệu của Hồ Chí Minh động viên toàn dân đứng lên đấu tranh làm chủ vận mệnh của mình là khẩu hiệu "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, khẩu hiệu đó không chỉ động viên toàn dân ta, mà có thể nói, động viên cả nhân loại tiến bộ và được coi là chân lý của thời đại, của mọi thời đại. Khẩu hiệu đó đã động viên cao độ ý chí cách mạng, lòng yêu nước của cả dân tộc ta "hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi".

Tư tưởng "dân là gốc" và "dân làm chủ" của Hồ Chí Minh - trong đấu tranh cách mạng cũng như trong khởi nghĩa và chiến tranh - phản ánh sự kết hợp chặt chẽ yêu nước với thương dân, chủ nghĩa yêu nước trên lập trường của giai cấp công nhân, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời đại mới, thể hiện tư tưởng nhân văn cao cả Hồ Chí Minh.

5. "Dân là gốc" và “dân làm chủ” là nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng Việt Nam, của chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam trong thời gian qua. "Dân là gốc" và "dân làm chủ" cũng là nguồn sức mạnh vô địch của quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Vấn đề đặt ra hiện nay là thực hiện được đúng đắn, đầy đủ tư tưởng “dân là gốc” và "dân làm chủ” của Hồ Chí Minh để xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh trong công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, có hiệu quả, đổi mới và chỉnh đốn Đảng, chống lại mọi biểu hiện quan liêu, độc đoán, cửa quyền, tham nhũng, vi phạm quyền làm chủ và lợi ích chính đáng của quần chúng nhân dân đông đảo. Trên cơ sở đó, thực hiện tốt "dân là gốc” và "dân làm chủ" trong sự nghiệp củng cố quốc phòng và an ninh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ XHCN trước âm mưu chiến lược mới của các thế lực thù địch.

Toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, theo đường lối đổi mới toàn diện của Đảng đang tiến hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân, LLVT nhân dân cũng phải thực hiện đúng đắn và sáng tạo cơ chế đó.

Đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cần tăng cường sự quản lý Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh, với sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, trong đó có việc xây dựng hệ thống luật và các văn bản pháp quy về quốc phòng và an ninh nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và thể hiện quyền làm chủ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trên lĩnh vực này. Nhưng như thế chưa đủ. Phải tiến hành cuộc vận động sâu rộng trong toàn dân, giáo dục lòng yêu nước và yêu CNXH, tinh thần cảnh giác cách mạng, phát động tinh thần tự giác và ý thức làm chủ của các tầng lớp nhân dân, dấy lên các phong trào hành động cách mạng của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Như vậy, sức mạnh và tiềm lực quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mới trở thành hiện thực và có cơ sở vững vàng.

Trung tướngLÊ HAI

"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống.

Định hướng phát triển đất nước những năm tiếp theo về dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: Thực hành và phát huy rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân và vai trò chủ thể của nhân dân, thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Trong bài viết"Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam"đăng trên Báo Nhân Dân ngày 17/5/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam".Làm rõ, hoàn thiện lý luận, thể chế hóa, phát huy phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong thực tiễn đời sống xã hội vấn đề cấp thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi hiện nay.

1.Quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về mục tiêu cách mạng vô sản là phục vụ lợi ích của quần chúng nhân dân có giá trị khoa học, thực tiễn, là nền tảng phương pháp luận trong xây dựng nền dân chủ XHCN. Theo đó, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước và giữ vai trò quyết định sự tồn tại của nhà nước, được thể hiện ra như là “mộttrong những tính quy định, cụ thể là sự tự quy định của nhân dân”[1]; nhà nước dân chủ thực sự là nhà nước “ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tớicon người hiện thực, nhân dân hiện thựcvà được xác định là sự nghiệp củabản thânnhân dân”[2]. Xã hội hướng tới sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước.Quan điểm đó tạo ra sự thay đổi có tính chất cách mạng trong nhận thức về dân chủ, có giá trị lý luận, thực tiễn hình thành dân chủ XHCN.

Dân là chủ và dân làm chủ là gì

Hình ảnh tại lễ tuyên dương các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2020. (Ảnh minh hoạ. Nguồn: hanoimoi.com.vn).

Tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vai trò, vị trí, lực lượng, sức mạnh to lớn của nhân dân, là một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối thượng”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân”. Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân, thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đây là tư tưởng nền tảng mà Đảng ta hướng tới, đồng thời là cách thức thực hiện mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở nước ta.

Thực tiễn nhiều năm thực hiện cơ chế quản lý tập trung bao cấp trước thời kỳ đổi mới, do hoàn cảnh lịch sử của thời kỳ đó, quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự được phát huy, việc huy động sự đóng góp và sức dân vẫn còn nặng nề, mệnh lệnh hành chính.Xuất phát từ thực tiễn đó, trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ V của Đảng (1981 - 1986), Đảng ta đã đề ra chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đây là một trong những nội dung đặc biệt nhấn mạnh về tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng. Ngày 28/11/1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) đã ban hành Chỉ thị số 53-CT/TW “Về tăng cường công tác quần chúng của Đảng”, trong đó nhấn mạnh: “Phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện tốt khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong sản xuất, phân phối cũng như trong tất cả các công tác quan hệ trực tiếp đến quần chúng”. Có thể nói, lần đầu tiên, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được Đảng ta chính thức đề ra, trở thành một chủ trương lớn, một phương châm hành động cụ thể.

Tiếp đó, ngày 18/02/1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, trong đó nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”. Nội dung chính của Chỉ thị xoay quanh 04 khâu liên quan đến dân chủ: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Ngày 28/3/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” theo nội dung của phương châm căn bản trên.Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển năm 2011), Đại hội XII xác định bản chất “Nhân dân làm chủ”, “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân” là 02 trong 08 đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, căn cứ vào tình hình thực tiễn và quan điểm mở rộng dân chủ, Đảng ta đã bổ sung 02 khâu trong phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[5].

Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đãbổ sung nội dung“dân giám sát”, "dân thụ hưởng” vào nội dung phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đây là sự phát triển tư duy lý luận, hoàn thiện chủ trương của Đảng về dân chủ[6]. Sự phát triển, hoàn thiện đó có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong xây dựng và phát huy nguồn lực con người, là động lực, yếu tố sống còn, có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước giai đoạn tiếp theo.Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, TổngBí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm"dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm"dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vậy nội hàm của phương châm trên là gì? Phải chăng là những điều cơ bản, khái quát sau đây:

“Dân biết”là nhân dân hiểu và nắm rõ được chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật liên quan đến cuộc sống nhân dân, vận mệnh đất nước, dân tộc. Nhân dân nắm, biết để bàn bạc, đóng góp ý kiến, hoạch định, góp phần bảo đảm khi được ban hành, thực hiện trong đời sống, đem lại kết quả tốt. Nhân dân biết, nắm rõ, hiểu được chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, tạo cơ sở để thống nhất, đồng thuận, đồng lòng, đoàn kết tổ chức, thực hiện đạt kết quả cao trong cuộc sống. Nhân dân hiểu rõ mục đích cuối của chủ trương, chính sách, pháp luật là phục vụ lợi ích của chính nhân dân, thành quả của chủ trương, chính sách, pháp luật mang lại do nhân dân thụ hưởng, tạo ra xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Để nhân dân “biết” phải sử dụng hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục.

“Dân bàn”là nhân dân được thảo luận, bàn bạc, ý kiến, góp ý với Đảng và Nhà nước, để việc hoạch định, thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật được thực hiện một cách chính xác, phù hợp, hiệu quả. Nhân dân bàn bạc, thống nhất cách thức, biện pháp tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả vào thực tiễn công việc, mang lại lợi ích cho nhân dân, đất nước. Khi nhân dân góp ý kiến đúng, xác đáng phải trân trọng, tiếp thu, hoàn thiện cho tốt hơn; khi nhân dân góp ý kiến chưa xác đáng, chưa phù hợp phải giải thích, tuyên truyền, thuyết phục để nhân dân hiểu, nắm rõ chủ trương, chính sách, pháp luật và những lợi ích đem lại. Để nhân dân “bàn” phải có cơ chế, cách thức tổ chức phù hợp.

“Dân làm”là nhân dân làm việc, thực hiện, hành động chủ trương, nghị chính sách, pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, đảm bảo hiệu quả. Nhân dân thực hiện tinh thần làm chủ, vai trò chủ thể thực hiện, triển khai hoạt động, công việc với cách thức, phương pháp, phương tiện, lực lượng thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật, việc làm vào đời sống đạt hiệu quả. Trong quá trình đó, cán bộ, đảng viên trước hết làm tốt vai trò là một công dân, với tinh thần là hạt nhân, đi đầu trong tổ chức, triển khai, thực hiện.

“Dân kiểm tra”làviệc nhân dân xem xét, đánh giá thực tế thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, việc làm, qua đó phát hiện những sai lệch, thiếu sót, đề xuất, ngăn chặn, xử lý, đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời, bảo đảm thực hiện có hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra. Mặt khác, qua kiểm tra để khuyến khích, biểu dương những việc làm tốt, mô hình hay. Nhân dân kiểm tra bằng cơ chế dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện dân cử, nhất là dân chủ ở cơ sở. Để nhân dân kiểm tra được cần có cơ chế cụ thể, cách thức tiến hành phù hợp.

“Dân giám sát”lànhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện, kết quả thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, công việc thực hiện. Nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có đúng, có tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật không. Giám sát bằng hình thức, phương pháp cụ thể, thường xuyên, theo nội dung công việc, trực tiếp, hoặc gián tiếp.

“Dân thụ hưởng” là nhân dân được nhận, thụ hưởng thành quả, kết quả của quá trình phát triển về đời sống vật chất, tinh thần mà các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật mang lại sau quá trình tổ chức, thực hiện. Nhân dân thụ hưởng lợi ích, giá trị dẫn tới xã hội có trật tự, kỷ cương, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời nhân dân thấy được mục đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ trương, chính sách, pháp luật mà Đảng, Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện đều vì con người, vì nhân dân, lan toả giá trị tiến bộ, nhân văn, phẩm giá con người, bản chất chất của chế độ xã hội.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung nội dung “dân giám sát” vào phương châm để tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân. Nội dung “dân thụ hưởng” trong thực tế đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong suốt 35 năm đổi mới đất nước, nhân dân đã thụ hưởng tất cả những thành quả của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới mang lại. Tuy nhiên, việc bổ sung nội dung “dân thụ hưởng” vào phương châm nhằm khẳng vai trò làm chủ, chủ thể nhân dân và đích cuối cùng của mọi chủ trương, chính sách, pháp luật là vì lợi ích của nhân dân, đúng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, đồng thời thể hiện rõ thực tiễn, mục tiêu, con đường đi lên CNXH, dân chủ - nhân dân làm chủ là vấn đề cơ bản, là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Như vậy, “biết", "bàn", "làm", "kiểm tra", "giám sát", "thụ hưởng” trong nội dung phương châm là quá trình tiếp nối biện chứng, có quan hệ chặt chẽ, chuyển hoá với nhau, gắn liền với vai trò chủ thể là nhân dân, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Đây không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trongquátrình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống.Đó cũng chính là động lực quan trọng để hiện thực hóađịnh hướng và tầm nhìn trong giai đoạn mới, hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc, đồng thời đó cũng là mục tiêu hướng tới của CNXH mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta lựa chọn, xây dựng, phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

2.Trong những năm vừa qua, việc thực hiện phương châm “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã đạt được những kết quả tích cực. Về phương diện lý luận, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” từng bước xây dựng, phát triển, hoàn thiện; cụ thể hóa trong chủ trương, đường lối về xây dựng, thực hiện dân chủ XHCN, trở thành phương châm hành động trong thực tiễn đời sống. Về thực tiễn, phương châm đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ XHCN ngày càng tốt hơn trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã được triển khai ngày càng sâu rộng, từng bước vững chắc và thực sự đi vào cuộc sống, nhất là phát huy dân chủ ở cơ sở, đạt kết quả tích cực. Nhà nước từng bước thể chế hóa Hiến pháp, pháp luật phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển và yêu cầu của đất nước. Chế độ dân chủ đại diện được phát huy; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng được nâng cao; cải cách hành chính đạt nhiều kết quả tích cực. Dân chủ trực tiếp ở các cấp, dân chủ ở cơ sở được mở rộng, nhân dân được bàn và quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với lợi ích của nhân dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân được chú trọng và đạt nhiều kết quả tốt. Phương châm đã góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, việc thực thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn một số hạn chế. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phương châm chưa thực sự thường xuyên. Công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện chưa được chú trọng. Một số văn bản pháp luật liên quan đến dân chủ ở cơ sở chậm được xây dựng và hoàn thiện. Thực hiện phương châm chưa thực sự đi đôi với giữ gìn trật tự, kỷ cương, có tình trạng lợi dụng theo hướng tiêu cực, chống đối, xuyên tạc, gây mất an ninh, trật tự, gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ. Có nơi vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức, ý kiến của nhân dân chưa thực sự được lắng nghe, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm, tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân nhiều nơi chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Việc thực hiện ở cơ sở chưa đồng đều ở các khu vực, loại hình cơ sở”. Các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, trong đó nhân dân làm chủ - thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chưa được thể chế hóa một cách cụ thể, đầy đủ, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị có mặt chưa theo kịp yêu cầu tình hình mới, chưa thật sự sâu sát với hơi thở cuộc sống của các tầng lớp nhân dân và bám sát cơ sở; chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội chưa đều. Trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ sở dịch vụ, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập… khó thực hiện. Hệ thống chính trị cơ sở, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng, coi nhẹ ý kiến, kiến nghị của nhân dân, giải quyết chưa kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Từ cơ sở lý luận, thực tiễn, có thể thấy những vấn đề đặt ra là: (1) Làm sao thể chế hóa các quan điểm của Đảng, đưa phương châm thành các quy định chặt chẽ, đồng bộ, cụ thể trong hệ thống pháp luật; (2) Thực hành phương châm trong thực tiễn đời sống xã hội, xác định, phân định rõ phạm vi, quy trình công khai, minh bạch, cách thức triển khai, thực hiện. (3) Dân là chủ phải gắn với kỷ cương, phép nước, đảm bảo tinh thần thượng tôn pháp luật. (4) Tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với người dân, đổi mới và nâng cao chất lượng các hình thức lấy ý kiến của nhân dân. (5) Phát huy tính ưu việt, bản chất tốt đẹp dân chủ XHCN, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, làm thất bại âm mưu chống phá, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, đật đổ chế độ ngày càng gay gắt.

Việc vận dụng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bên cạnh những ưu điểm, kết quả, thành tựu đạt được thì cũng còn có hạn chế, có vấn đề đặt ra. Phát huy sức mạnh của nhân dân trong nâng cao tiềm lực và sức mạnh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội có việc, có lúc còn chưa đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ hiện nay. Công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước xây dựng, thể chế hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về bảo vệ an ninh, trật tự đã cơ bản phát triển nhưng còn đặt ra vấn đề phải xử lý, khắc phục. Qua hoạt động thực tiễn, nắm tình hình, tham mưu trên một số mặt còn chưa kịp thời, từ đó còn có những vụ việc phức tạp phải tập trung xử lý. Công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân đối với pháp luật chưa cao. Ý thức chấp hành pháp luật, công tác phối hợp, phát huy vai trò của nhân dân bảo đảm an ninh, trật tự trên một số địa bàn, lĩnh vực chưa vững chắc, còn tiềm ẩn những vấn đề phức tạp, nhất là khu vực biên giới, vùng tôn giáo, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

3.Quán triệt Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam": Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, lực lượng Công an nhân dân thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Một là,Công an nhân dân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội phải quán triệt sâu sắc phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; thực hiện quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Hai là, qua hoạt động thực tiễn bảo đảm an ninh, trật tự, Công an nhân dân kịp thời phát hiện những vướng mắc, hạn chế, sơ hở trong thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước hoàn thiện trong chủ trương, đường lối, thể chế hoá phương châm trong hệ thống pháp luật bảo đảm tính đầy đủ, thống nhất, đồng bộ, hình thành cơ chế chặt chẽ, quy trình cụ thể, cách thức tiến hành khoa học, hiệu quả. Rà soát, đề nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cụ thể hoá các quy phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Ba là, gắn thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” với đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Nhân dân nhận thức đầy đủ, đúng đắn quyền làm chủ, vai trò chủ thể của mình, thấy được mục đích hướng tới của công tác đảm bảo an ninh, trật tự là xây dựng một xã hội trật tự, an toàn, lành mạnh, an ninh xã hội, an ninh con người được đảm bảo, thành quả này nhân dân là chủ thể trực tiếp thụ hưởng, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tạo ra sự đồng thuận, ý thức tự giác thực hiện, góp phần triệt tiêu những nguyên nhân, điều kiện hình thành xung đột xã hội, giải quyết một cách căn bản từ gốc nguyên nhân, điều kiện hình thành tội phạm, vi phạm pháp luật, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

Bốn là,thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” gắn với công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Xây dựng cơ chế công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật, từ đó có cơ sở pháp lý, điều kiện để nhân dân thực hiện phương châm. Tiếp thu ý kiến đóng góp xác đáng, tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình, giúp đỡ, phát huy sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân, đem lại hiệu quả cao nhất trong nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự theo hướng đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho cho nhân dân khi có yêu cầu giải quyết công việc, thực hiện vai trò kiểm tra và giám sát theo quy định của pháp luật,lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo của hiệu quả công việc.

Năm là, trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội phải thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, xây dựng nền an ninh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh hoạt động lợi dụng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để hoạt động tiêu cực, vi phạm pháp luật, chống phá. Công an nhân dân “dựa vào dân mà công tác, chiến đấu, vì nhân dân mà phục vụ”, từ đó hoàn thành xuất sắc trọng trách được giao, đảm bảo xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh, tạo môi trường hòa bình, ổn định, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới trên con đường thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc”./.

-------------------------------------------

(1), (2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen:Toàn tập,Sđd,t. 1, tr. 349

(3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Nxb CTQG, H,2000, tr.515, tr. 449, tr. 463.

(5), (6), (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, t1, tr. 173, tr.71, tr.88-89.

(8) Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, Báo Nhân Dân, ngày 17/5/2021.

Nguồn: dangcongsan.vn

Các bài khác

  • Khi trưởng thôn là đảng viên (09/09/2021)
  • Chi bộ thôn Thài Khao học và làm theo Bác Hồ (08/09/2021)
  • Thật thà “ba cùng” (08/09/2021)
  • Lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng HCM, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật (27/08/2021)
  • Nhận thức tính đúng đắn của nguyên tắc tập trung dân chủ, chống các luận điểm sai trái, xuyên tạc (16/07/2021)
  • Kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2021): Tháng Năm nhớ Bác (18/05/2021)
  • Thi đua là yêu nước (07/05/2021)
  • Đảng ủy Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 (20/04/2021)
  • Tích cực chuẩn bị sơ kết thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị (07/04/2021)
  • Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào phát triển nông nghiệp (08/03/2021)
Xem thêm »

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022